Trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9/2026, tình hình tai nạn, ùn tắc giao thông do “Quy định xử phạt vi phạm khoảng cách an toàn trên đường cao tốc” đã trở thành tâm điểm chỉ trích của báo chí và dư luận.
Phản ứng gay gắt từ xã hội đã buộc Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc ngày 11/9/2026 đã yêu cầu khẩn Bộ Công an, Bộ Xây dựng cùng lãnh đạo các địa phương, đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh phải nghiêm túc rà soát và xử lý các kiến nghị.
Sự can thiệp “cấp tốc” từ Chính phủ một lần nữa phơi bày một căn bệnh kinh niên trong quy trình làm luật tại Việt Nam, đó là, hầu hết các chính sách được ban ra thiếu sự đánh giá tác động thực tế.
Giới phân tích chính sách chỉ ra rằng, bất kỳ một quy định pháp quy nào trước khi lãnh đạo đặt bút ký thông qua đều phải trả lời rõ ràng các câu hỏi cốt lõi. Đó là, quy định đó tác động thế nào đến đời sống của người dân? Tính khả thi trên hạ tầng hiện hữu ra sao? Và liệu có nguy cơ gây tác dụng ngược hay không?
Nếu một chính sách được chuẩn bị chu đáo, người dân sẽ tự giác tuân thủ và vui vẻ chấp nhận chế tài xử phạt mà không tạo ra làn sóng bất bình.
Việc một quy định vừa ra đời đã vấp phải phản ứng rồi Chính phủ phải vội vã điều chỉnh không chỉ gây tốn kém nguồn lực xã hội mà còn giáng một đòn mạnh vào uy tín của hệ thống chính trị.
Điều đáng lo ngại nhất không chỉ là việc sửa đổi hay rút lại văn bản, mà là những xáo trộn và thiệt hại về thời gian, tiền bạc của người dân trong quá trình quy định đó đi vào cuộc sống.
Nguy hiểm hơn, khi những thiệt hại vô cùng lớn đó cuối cùng không một cá nhân hay cơ quan nào đứng ra chịu trách nhiệm!? Động thái chấn chỉnh kịp thời của lãnh đạo Chính phủ kể trên là điều cần thiết để hạ nhiệt.
Tuy nhiên, nếu tư duy làm luật vẫn duy trì theo kiểu “vừa chạy vừa xếp hàng”, đẩy cái khó về phía người dân thì sự hoài nghi đối với năng lực quản trị nhà nước sẽ còn tiếp tục gia tăng.
Hồng Lĩnh – Thoibao.de










