Vấn nạn làm giàu bằng mọi giá: Trí thức “cấp cao” thành trùm buôn bán chất cấm?

Sự tiến hóa của các đường dây tội phạm tại Việt Nam trong những năm gần đây đang vạch trần một thực trạng đáng báo động về sự suy đồi đạo đức trong một bộ phận giới có học hàm, học vị cao. 

Thị trường sản xuất chất cấm hiện tại không còn là sân chơi độc quyền của những kẻ liều mạng thiếu kiến thức, mà đã bị thống trị bởi các lãnh đạo trong ngành y tế với các bằng cấp tiến sĩ hóa sinh và dược học. 

Vụ án buôn bán và vận chuyển 50 tấn caffeine do Tiến sĩ dược Trần Phi Hùng, Trưởng khoa Dược, Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương là một ví dụ. Từ số caffeine này, các đối tượng có thể chế ra 150 tấn ma túy.

Những kẻ này đã nâng tầm các hoạt động bất hợp pháp thành một ngành “kinh tế tri thức ngầm” với quy mô công nghiệp, và sử dụng chính danh nghĩa các Viện nghiên cứu và Doanh nghiệp khoa học để trục lợi, đồng thời gieo rắc hiểm họa cho cộng đồng.

Điều đáng chú ý, là những bộ óc trí thức đầy kiến thức này trong hệ thống bảo vệ sức khỏe lại vận hành hệ thống “ngầm” sản xuất chất cấm một cách tinh vi để qua mặt các cơ quan chức năng. 

Các vụ việc này cũng cho thấy, khi sự phát triển của nền kinh tế thị trường thiếu đi các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nghiêm túc, sẽ đẩy những người có chuyên môn cao vào vòng xoáy kiếm tiền bằng mọi giá. 

Đây không phải là những vụ án xuất phát từ lòng tham nhất thời của một vài cá nhân tha hóa trong hệ thống bảo vệ sức khỏe ở Việt nam. Mà vấn đề nằm ở chỗ các trí thức này hiểu rõ luật và ý thức được sự nguy hiểm hơn ai hết. 

Nhưng họ sử dụng giấy phép, và kiến hức lợi dụng các chất chưa nằm trong danh mục cấm hoặc tận dụng kẽ hở để tạo ra những sản phẩm gây nguy hiểm cho toàn xã hội.

Theo giới chuyên gia, đây là một sự khủng hoảng nghiêm trọng và là một lỗ hổng lớn trong hệ thống kiểm soát và hậu kiểm đối với các hoạt động khoa học ứng dụng ở Việt Nam hiện nay. 

Tương tự, như vụ án tuồn hàng tấn chất Salbutamol – vốn là hoạt chất điều trị hen suyễn cũng bị các “trí thức” này tuồn ra ngoài làm chất tạo nạc cho gia súc, từ đó có thể gây ung thư.

Điều đó cũng cho thấy ranh giới giữa bệnh viện, phòng thí nghiệm và sự nguy hiểm cho toàn xã hội trên quy mô lớn đôi khi chỉ cách nhau bằng vài chữ ký trên các hợp đồng kinh tế ngụy trang. 

Điểm đáng nói không nằm ở việc thiếu các quy định bắt buộc về mặt hành chính, mà là sự bất lực của hệ thống trong việc giám sát của các tổ chức và những cá nhân nắm các giữ công nghệ lõi. 

Các công nghệ cấp cao, hiện đại mang tính chuyên ngành thay vì được dùng để phát triển ngành dược phẩm, thì lại bị một bộ phận trí thức dùng để biến thành các công thức độc hại, và tàn phá cộng đồng với sức công phá gấp nhiều lần.

Đây chính là sự phá sản của tư duy giáo dục chỉ chú trọng bằng cấp nhưng buông lỏng việc rèn luyện nhân cách cho cán bộ, và giới trí thức. 

Vấn đề không chỉ là lỗ hổng pháp lý, mà là thực trạng tồn tại những con người ban ngày vẫn đứng trên bục giảng nói về đạo đức nghề nghiệp, nhưng ban đêm lại điều hành các đường dây ngầm để đầu độc thế hệ tương lai. 

Nếu ban lãnh đạo Việt Nam không quyết liệt xử lý đối với tội phạm đối với các đối tượng nhân danh trí thức này, nền kinh tế sẽ phải gánh chịu những hậu quả vô cùng lớn do các chất độc hại gây ra. 

Câu hỏi đặt ra không chỉ là có bao nhiêu vị tiến sĩ, trưởng khoa sẽ phải hầu tòa trong thời gian tới, mà là làm thế nào để xây dựng một cơ chế giám sát liêm chính trong lòng các Viện Nghiên cứu và trường Đại học? 

Vấn đề là, nếu không kiểm soát được những cái đầu “trí thức” đầy chữ nghĩa nhưng thiếu đạo đức này thì họ sẽ đưa đất nước Việt nam đi về đâu?

Trà My – Thoibao.de