Theo giới quan sát, cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, một chính khách có tầm nhìn xa, từng khẳng định rằng chỉ có những kẻ thiếu hiểu biết mới chọn con đường chống lại Hoa Kỳ.
Quan điểm này không phải là sự tôn sùng một siêu cường một cách quá mức, mà là sự thừa nhận thực tế rằng: nước Mỹ chính là kiến trúc sư trưởng của hệ thống toàn cầu hiện nay.
Tuy nhiên, nhìn vào các quốc gia chọn con đường đối đầu với siêu cường số 1 của thế giới, người ta thấy một kịch bản chung đau đớn: đó là sự bần cùng hóa nhân dân dưới vỏ bọc của cuộc cách mạng.
Thực tế tại các quốc gia như Cuba, Iran, Venezuela hay Nicaragua…, đã cho thấy một sự thật là khi một chế độ lấy chống Mỹ làm nền tảng chính trị, họ buộc phải duy trì trạng thái đối đầu vĩnh viễn để bảo vệ tính chính danh của quyền lực.
Tại Cuba, cuộc cách mạng năm 1959 được rêu rao là giải phóng dân tộc khỏi ảnh hưởng của Hoa Kỳ, như những lời dối trá từ đời cha đến đời con của dòng họ Castro. Tương tự, như ở Iran, chống Mỹ trở thành một dạng tín ngưỡng lệch lạc, bóp nghẹt một quốc gia giàu tài nguyên và trí tuệ.
Theo giới phân tích quốc tế, những chế độ “độc tài này” này tồn tại được vì khẩu hiệu chống Mỹ vẫn luôn là một “tấm bình phong” để đổ lỗi cho mọi thất bại của chế độ.
Đặc điểm chung của các mô hình này là quyền lực tuyệt đối, không bị kiểm soát. Khi quyền lực không có cơ chế tự sửa sai hoặc tự điều chỉnh, các sai lầm kéo dài hàng chục năm trở thành gánh nặng và kìm hãm sự phát triển của quốc gia.
Ở đó, người dân lũ lượt bỏ nước ra đi chính là cuộc trưng cầu dân ý “bằng chân” chuẩn mực nhất; không ai bảo ai người dân tự động rời bỏ quê hương xứ sở khi họ cảm thấy không có tự do và tương lai.
Trong khi đó, các quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc hay Singapore…, chọn hội nhập để trở thành những cường quốc, thì các quốc gia chống Mỹ lại rơi vào vòng luẩn quẩn: cấm vận, kinh tế kiệt quệ, và cuối cùng là sụp đổ.
Việt Nam được xem là một trường hợp may mắn, khi các thế hệ lãnh đạo từ sau năm 1986 đã tỉnh ngộ nỗ lực cải cách và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ.
Đặc biệt, dưới thời Tổng Bí thư Tô Lâm, xu hướng thực dụng và mong muốn tham gia sâu hơn vào quỹ đạo kinh tế phương Tây đã trở nên rõ nét hơn bao giờ hết.
Ông Tô Lâm dường như hiểu rõ rằng, để đưa đất nước vào “kỷ nguyên vươn mình”, Việt Nam không thể tiếp tục đứng ngoài những luật chơi của thế giới hiện đại do nước Mỹ dẫn dắt.
Thế nhưng, thực tế lại đang cho thấy một sự bất lực đáng lo ngại. Đó là, nỗ lực “lội ngược dòng” của Tổng Bí thư Tô Lâm đang phải đối mặt với “vòng kim cô” ý thức hệ Cộng sản đã hằn sâu vào bộ máy và tư duy của giới lãnh đạo của Đảng CSVN.
Sự phụ thuộc quá sâu vào quỹ đạo của Bắc Kinh qua nhiều thập kỷ không chỉ nằm ở các vấn đề kinh tế, mà còn là sự đồng nhất về mô hình tổ chức và kiểm soát xã hội.
Mỗi bước tiến về phía Washington của ông Tô Lâm luôn luôn vấp phải sự kháng cự từ các nhóm bảo thủ trong nội bộ của Đảng và sự giám sát chặt chẽ từ Trung Nam Hải.
Việc thoát khỏi gọng kìm của Bắc Kinh để hướng tới một liên minh thực chất hơn với Mỹ dường như đã trở thành việc quá sức đối với ông Tô Lâm, khi hệ thống chính trị vẫn chưa sẵn sàng cho một sự thay đổi thể chế theo hướng văn minh và dân chủ.
Sự bất lực của người đứng đầu Đảng CSVN đã cho thấy, nếu ông Tô Lâm không thể đập gẫy cái vòng kim cô ý thức hệ để ưu tiên lợi ích dân tộc, thì những nỗ lực của ông sẽ chỉ là cơ bão trong tách trà.
Bài học từ sự sụp đổ của Cuba hay sự thất bại của Iran đang hiện hữu như một lời cảnh báo rằng: Nếu không mở cửa thực sự, mọi nỗ lực cứu vãn chế độ cũng chỉ là vô vọng.
Trà My – Thoibao.de










